Chi phí nuôi một con heo thịt gồm tám khoản: con giống, thức ăn, thú y, điện nước, khấu hao chuồng và thiết bị, công lao động, lãi vốn và phần hao hụt do heo chết hoặc còi. Cách tính đúng là cộng đủ tám khoản đó cho cả lứa rồi chia cho số kg heo hơi thật sự bán được, ra giá thành mỗi kg. Đem con số này so với giá thương lái trả mới biết lứa heo đó đứng ở đâu.
Bài này là "bức tranh chung" của danh mục kinh tế trại. Các bài khác đi sâu vào nái, sổ sách, cách bán, gia công, vay vốn. Ở đây chỉ dạy cách đếm cho đủ. Mọi con số tiền dưới đây là số giả định, viết bằng "đv" (đơn vị tiền giả định), để anh chị thay bằng giá thật ở chỗ mình.
Vì sao phải tính theo kg chứ không theo con
Người mới hay nói "lứa này mỗi con lời được bao nhiêu". Câu đó dễ đánh lừa. Hai con heo cùng mua một ngày, một con xuất 100 kg, một con xuất 85 kg, thì tiền thu khác nhau mà tiền cám cũng khác nhau. Đơn vị đo chung duy nhất là kg heo hơi, vì thương lái, lò mổ và công ty đều trả tiền theo kg.
Tính theo kg còn giúp so sánh giữa các lứa. Lứa mùa hè heo ăn ít, lớn chậm. Lứa mùa đông miền Bắc tốn thêm điện sưởi. Lứa có dịch tiêu chảy hao vài con. Quy hết về giá thành mỗi kg thì thấy ngay lứa nào nuôi tốn hơn và tốn ở khoản nào.
Tám khoản chi phí, không được bỏ khoản nào
| Khoản | Gồm những gì | Sai lầm hay gặp |
|---|---|---|
| 1. Con giống | Tiền mua heo con, tiền chở, hoặc giá trị heo con tự sản xuất | Heo con nhà đẻ thì tính bằng 0 — sai, vì bán heo con cũng ra tiền |
| 2. Thức ăn | Cám hỗn hợp, đậm đặc, ngô, cám gạo, rau, men, phụ gia | Quên ghi bao cám lấy chịu ở đại lý, quên phần ngô nhà trồng |
| 3. Thú y | Vaccine, thuốc sát trùng, vôi, công thú y | Chỉ tính khi heo ốm, bỏ qua vaccine và sát trùng định kỳ |
| 4. Điện, nước | Quạt, đèn úm, bơm giếng, máy trộn | Dùng chung đồng hồ với nhà ở nên không tách được |
| 5. Khấu hao | Chuồng, máng, núm uống, hầm biogas chia theo số năm dùng | Coi chuồng đã xây xong là "không tốn nữa" |
| 6. Công lao động | Công thuê, hoặc công của chính mình quy ra tiền | Không tính công nhà, nên tưởng hiệu quả cao hơn thật |
| 7. Lãi vốn | Lãi vay ngân hàng, hoặc tiền lãi mất đi nếu để vốn đó gửi tiết kiệm | Vốn nhà thì bỏ qua |
| 8. Hao hụt | Heo chết, heo còi bán rẻ, heo loại | Chỉ chia chi phí cho số con còn sống mà quên rằng con chết cũng đã ăn cám |
Trong chăn nuôi heo thịt, thức ăn thường là khoản lớn nhất. Nhiều tài liệu khuyến nông nêu nó chiếm khoảng 60–70% tổng chi phí với trại nuôi cám công nghiệp, tuỳ giai đoạn và tuỳ giá giống. Đứng thứ hai thường là con giống. Vì thế chỉ cần hai khoản này sai một chút là cả phép tính lệch.
Khoản thức ăn tính thế nào cho sát
Có hai cách. Cách thứ nhất là cộng tiền từng bao cám đã dùng cho lứa đó. Cách này chính xác nếu anh chị ghi sổ xuất kho cám theo ô chuồng. Cách thứ hai là dùng hệ số chuyển hoá thức ăn (FCR): số kg cám để heo tăng 1 kg. Với heo lai nuôi cám công nghiệp, FCR cả giai đoạn nuôi thịt thường nằm trong khoảng tham khảo 2,4–3,0; heo nội, heo đen thả vườn cao hơn nhiều. Khoản thức ăn ước tính = số kg tăng trọng × FCR × giá trung bình mỗi kg cám.
Cách thứ hai chỉ để ước trước khi nuôi. Khi nuôi xong, phải đối chiếu với số bao cám thật. Nếu số thật cao hơn ước nhiều, cám đang rơi vãi, heo đang ốm ngầm, hoặc chuồng quá nóng.
Công nhà và vốn nhà: tính hay không
Đây là chỗ cãi nhau nhiều nhất. Nhiều hộ nói "công mình thì tính làm gì". Nhưng nếu không tính, anh chị không thể so nuôi heo với việc khác — đi làm thuê, trồng rau, gửi tiết kiệm. Cách thực tế là tính hai dòng: chênh lệch tiền mặt (chưa trừ công nhà, vốn nhà) và hiệu quả thật (đã trừ). Dòng thứ nhất cho biết túi tiền tăng bao nhiêu. Dòng thứ hai cho biết công sức và đồng vốn đó có đáng không.
Ví dụ tính một lứa 20 con — toàn số giả định
Giả định một hộ nuôi 20 heo thịt, mua heo con khoảng 20 kg, nuôi tới khoảng 100 kg. Trong lứa chết 1 con. Mọi giá dưới đây là giả định, viết bằng đv.
| Khoản | Cách tính (giả định) | Thành tiền (đv) |
|---|---|---|
| Con giống | 20 con × 100 đv/con | 2.000 |
| Thức ăn | 19 con × 80 kg tăng × FCR 2,7 × 1 đv/kg, cộng phần con chết đã ăn khoảng 60 kg cám | 4.164 |
| Thú y | Vaccine, sát trùng, vôi cả lứa | 150 |
| Điện, nước | Ước theo hoá đơn tách riêng | 100 |
| Khấu hao | Chuồng 3.000 đv dùng 10 năm, mỗi năm 2,5 lứa → mỗi lứa 120 | 120 |
| Công lao động | Quy công nhà ra tiền | 300 |
| Lãi vốn | Vốn bình quân × lãi suất giả định × số tháng nuôi | 150 |
| Tổng | 6.984 |
Số kg bán được: 19 con × 100 kg = 1.900 kg. Giá thành = 6.984 ÷ 1.900 ≈ 3,68 đv/kg. Khoản hao hụt không cần dòng riêng, vì con chết đã nằm sẵn trong tiền giống và tiền cám mà không đẻ ra kg nào.
Sau đó mới so với giá bán. Nếu giá thương lái trả (giả định) là P đv/kg, chênh lệch mỗi kg là P − 3,68. Kết quả dương hay âm phụ thuộc hoàn toàn vào P lúc xuất chuồng, thứ người nuôi không quyết được. Phần người nuôi quyết được là con số 3,68.
Giá hoà vốn và ba con số nên thuộc lòng
Từ phép tính trên rút ra ba con số mỗi chủ trại nên biết trước khi thả lứa mới:
- Giá thành mỗi kg của lứa trước — làm mốc.
- Giá hoà vốn tiền mặt — chỉ tính các khoản phải chi bằng tiền (giống, cám, thú y, điện, lãi vay). Giá bán dưới mức này là phải bỏ tiền túi ra bù.
- Giá hoà vốn đầy đủ — cộng thêm khấu hao, công nhà, vốn nhà. Giá bán dưới mức này thì nuôi vẫn có tiền quay vòng nhưng đang ăn dần vào chuồng và công sức.
Biết hai mức hoà vốn giúp quyết định lúc giá xuống: nên bán bớt, nuôi tiếp, hay tạm ngưng thả lứa sau. Chuyện giá lên xuống theo chu kỳ có bài riêng trong danh mục này.
Chỗ nào làm giá thành đội lên
Nhìn bảng chi phí thì thấy ngay: muốn giá thành thấp, đừng chỉ đi trả giá cám. Những thứ sau đội giá thành mà ít ai để ý:
- Tỉ lệ chết cao. Mỗi con chết giữa chừng mang theo tiền giống và mấy chục kg cám. Một lứa chết 3/20 con thì giá thành có thể nhảy vọt dù giá cám không đổi.
- Heo còi, đàn không đều. Vài con chậm lớn giữ cả ô chuồng thêm mấy tuần, kéo dài thời gian khấu hao và tiền điện.
- Cám rơi vãi. Máng quá đầy, máng hở, chuột chim vào kho. Chỗ thất thoát này không ghi sổ được nhưng hiện ra ở FCR.
- Nuôi quá nặng. Heo càng lớn thì mỗi kg tăng thêm càng tốn cám. Nuôi cố thêm vài tuần chưa chắc có lợi, phải tính.
- Chuồng nóng hoặc lạnh. Heo nóng thì bỏ ăn, heo lạnh thì đốt năng lượng để giữ ấm. Cả hai làm FCR xấu đi. Cách làm mát, giữ ấm có ở danh mục chuồng trại.
- Bệnh. Ngoài tiền thuốc còn tiền heo chậm lớn. Phòng bệnh luôn rẻ hơn chữa — phần này viết riêng ở danh mục phòng bệnh.
Ba miền, ba kiểu chi phí phát sinh theo mùa
Miền Bắc có mùa đông lạnh và mùa nồm ẩm. Lứa nuôi qua tháng Chạp, tháng Giêng tốn thêm điện đèn úm, bạt che, và hay có tiêu chảy, hô hấp. Ghi riêng tiền điện mùa đông thì thấy rõ.
Miền Trung nắng nóng gió Lào mùa hè, mưa bão mùa thu. Tiền điện quạt, tiền nước làm mát tăng vọt vào tháng 5–8. Heo ăn ít, lớn chậm nên thời gian nuôi kéo dài.
Miền Nam nóng quanh năm, mùa mưa ẩm kéo dài. Chi phí làm mát đều đặn hơn, nhưng mùa mưa cám dễ ẩm mốc nếu kho không kín — cám mốc vừa mất tiền vừa hại heo.
Bắt tay làm: bảng tính một trang
Kẻ một trang giấy hoặc một bảng tính trên điện thoại với các cột sau, ghi từ ngày thả lứa:
- Ngày thả, số con, tổng kg lúc thả, tiền giống.
- Mỗi lần nhập cám: ngày, loại, số kg, tiền, đã trả hay còn nợ.
- Mỗi lần chi thú y, điện, nước, công thuê.
- Mỗi con chết: ngày, khoảng kg, nguyên nhân thú y ghi nhận.
- Ngày xuất, số con, tổng kg, giá bán, người mua.
- Cuối lứa: cộng tổng, chia ra giá thành mỗi kg, ghi FCR thật.
Chỉ cần làm đủ ba lứa liên tiếp là anh chị có mốc của chính trại mình — chính xác hơn mọi con số trên mạng. Cách tổ chức sổ chi tiết hơn có ở bài sổ sách trại heo nhỏ.
Học thêm ở đâu
- Trạm hoặc trung tâm khuyến nông tỉnh hay mở lớp hạch toán cho hộ chăn nuôi, có mẫu sổ in sẵn.
- Cán bộ nông nghiệp xã biết các mô hình trong vùng, có thể giới thiệu trại làm sổ tốt để anh chị sang xem.
- Đại lý cám thường có bảng FCR theo giai đoạn của loại cám họ bán — dùng làm mốc tham khảo, nhưng nhớ đây là số trong điều kiện thử nghiệm tốt.
- Giáo trình chăn nuôi lợn của Học viện Nông nghiệp Việt Nam có chương về hiệu quả kinh tế, đọc để hiểu khái niệm khấu hao, chi phí cố định và biến đổi.
Câu hỏi thường gặp
Nuôi một con heo thịt tốn bao nhiêu tiền?
Không có con số chung, vì giá giống và giá cám thay đổi theo tháng và theo vùng. Cách đúng là cộng tám khoản: giống, cám, thú y, điện nước, khấu hao, công, lãi vốn và hao hụt. Trong đó tiền cám thường chiếm phần lớn nhất, sau đó tới tiền giống.
Nuôi 1 con heo thịt lãi bao nhiêu?
Không thể nói trước, vì kết quả phụ thuộc giá bán lúc xuất chuồng. Người nuôi chỉ kiểm soát được giá thành mỗi kg. Lấy giá bán trừ giá thành, nhân với số kg, mới biết lứa đó ra sao.
Giá thành heo hơi tính thế nào?
Cộng toàn bộ chi phí của cả lứa, kể cả phần cám con chết đã ăn, rồi chia cho tổng số kg heo hơi thực bán. Kết quả là giá thành mỗi kg. Nên tính thêm một bản chỉ gồm khoản chi bằng tiền mặt để biết mức hoà vốn tiền mặt.
Có cần tính công của chính mình không?
Nên tính, ít nhất ở một dòng riêng. Không tính công nhà thì không so được nuôi heo với các việc khác. Cách gọn là ghi hai kết quả: chênh lệch tiền mặt và hiệu quả sau khi đã trừ công, vốn nhà.
Heo chết giữa lứa thì tính chi phí ra sao?
Không gạch con đó khỏi sổ. Tiền giống và tiền cám của nó vẫn nằm trong tổng chi phí, chỉ là không đẻ ra kg nào để bán. Vì vậy tỉ lệ chết cao làm giá thành mỗi kg tăng rõ rệt.