Khẩu phần heo phải đổi theo từng giai đoạn vì nhu cầu thay đổi rất nhanh: heo con cần thức ăn dễ tiêu, đạm cao, cho ít một nhiều lần; heo thịt ăn tăng dần theo cân nặng, đạm giảm dần về cuối; nái mang thai ăn hạn chế để không quá béo, tăng thêm ở mấy tuần cuối; nái nuôi con ăn càng nhiều càng tốt; đực giống ăn vừa đủ để khoẻ mà không mập. Các con số trong bài là khoảng tham khảo phổ biến trong tài liệu khuyến nông; lượng thực tế luôn đối chiếu hướng dẫn trên bao cám và thể trạng con heo.
Bức tranh một vòng đời theo thức ăn
| Giai đoạn | Mục tiêu dinh dưỡng | Kiểu cho ăn |
|---|---|---|
| Heo con theo mẹ (tập ăn) | Làm quen thức ăn, chuẩn bị cho cai sữa | Rắc ít một, nhiều lần, thay mới thường xuyên |
| Heo con sau cai sữa | Vượt qua cú sốc đổi từ sữa sang cám, tránh tiêu chảy | Nhiều bữa nhỏ, tăng dần |
| Heo thịt giai đoạn đầu | Xây khung xương, cơ bắp | Tự do hoặc nhiều bữa, cám đạm, lysine cao |
| Heo thịt vỗ béo | Tăng trọng, giữ tỉ lệ nạc | Tự do hoặc theo bữa, cám đạm thấp hơn |
| Nái hậu bị | Phát triển cân đối, không béo | Theo bữa, theo hướng dẫn kỹ thuật |
| Nái mang thai | Nuôi thai, giữ thể trạng vừa | Hạn chế, tăng ở cuối kỳ |
| Nái nuôi con | Tạo sữa, không hao mòn | Tăng dần sau đẻ rồi gần như tự do |
| Đực giống | Khoẻ, hăng, tinh tốt | Theo bữa, không để béo |
Heo con: tập ăn và sau cai sữa
Phần chăm sóc heo con (giữ ấm, sữa đầu, cai sữa) thuộc danh mục Sinh sản và heo con. Ở đây chỉ nói chuyện thức ăn.
- Bắt đầu tập ăn: nhiều tài liệu khuyên từ khoảng tuần tuổi đầu tiên, bằng thức ăn chuyên dùng cho heo con tập ăn, viên nhỏ, thơm. Rắc một nhúm vào khay nông đặt trong ô úm, mỗi ngày thay vài lần để thức ăn luôn mới.
- Mục đích là làm quen, không phải ăn no. Tuần đầu heo con chỉ ăn rất ít; quan trọng là ruột được "tập" trước ngày cai.
- Vài ngày sau cai sữa: giữ nguyên loại cám heo con đã quen, cho nhiều bữa nhỏ trong ngày, tăng lượng dần. Nhiều kỹ thuật viên khuyên không để heo con ăn quá no ngay mấy ngày đầu vì dễ tiêu chảy.
- Đổi sang cám heo choai khi heo đạt khối lượng ghi trên bao, trộn dần trong khoảng một tuần.
Heo thịt: từ choai tới xuất chuồng
Lượng ăn của heo thịt tăng theo khối lượng. Một cách ước tính hay dùng trong tài liệu kỹ thuật là heo thịt ăn khoảng vài phần trăm khối lượng cơ thể mỗi ngày, tỉ lệ này cao ở heo nhỏ và giảm dần khi heo lớn. Bảng dưới là khoảng tham khảo cho heo lai ăn cám hỗn hợp; heo nội ăn ít hơn và lớn chậm hơn.
| Khối lượng heo (khoảng) | Lượng cám hỗn hợp mỗi ngày (khoảng tham khảo) | Loại cám |
|---|---|---|
| Dưới 20 kg | dưới 1 kg | Cám heo con |
| 20–30 kg | khoảng 1,0–1,3 kg | Cám heo choai |
| 30–60 kg | khoảng 1,5–2,2 kg | Cám heo choai, heo thịt giai đoạn đầu |
| 60 kg tới xuất chuồng | khoảng 2,2–3,0 kg | Cám vỗ béo |
Cho ăn tự do hay theo bữa
- Tự do (máng luôn có cám): heo ăn theo nhu cầu, lớn nhanh, tiết kiệm công. Hợp với heo lai giai đoạn đầu và máng ăn tự động không rơi vãi.
- Theo bữa (2–3 bữa/ngày): dễ quan sát heo ăn có ngon không, phát hiện sớm heo bỏ ăn. Hợp với hộ nhỏ, heo vỗ béo khi muốn hạn chế mỡ.
- Cho ăn theo bữa thì mỗi con phải có chỗ đứng ở máng; ô chật, máng ngắn là con yếu bị đẩy ra, đàn không đều.
Mùa nắng nóng
Heo ăn ít đi khi trời nóng. Cho ăn vào lúc mát (sáng sớm, chiều tối), tăng nước uống, không đổ cám dồn vào giữa trưa. Cách làm mát chuồng được bàn sâu ở danh mục Chuồng trại.
Nái mang thai: ăn hạn chế có kiểm soát
Thời gian mang thai của heo trung bình khoảng 114 ngày, tức "3 tháng 3 tuần 3 ngày". Tài liệu kỹ thuật thường chia khẩu phần nái chửa thành ba chặng:
| Chặng | Thời gian (khoảng) | Lượng ăn (khoảng tham khảo, cám nái chửa) | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Đầu kỳ | khoảng tháng đầu sau phối | khoảng 1,8–2,2 kg/ngày | Không cho ăn quá nhiều ngay sau phối |
| Giữa kỳ | tháng thứ hai đến gần tháng thứ ba | khoảng 2,0–2,5 kg/ngày, điều chỉnh theo thể trạng | Nái gầy cho thêm, nái béo bớt |
| Cuối kỳ | khoảng 3–4 tuần cuối | tăng thêm so với giữa kỳ | Thai lớn nhanh nhất ở giai đoạn này |
| Sát ngày đẻ | vài ngày trước đẻ | giảm dần | Thêm rau xanh, nước để chống táo bón |
Đánh giá thể trạng nái — việc làm được ngay
Thay vì chỉ cân cám, hãy nhìn và sờ nái. Nhiều tài liệu dùng thang điểm thể trạng 1–5:
- Điểm 1–2 (gầy): sờ thấy rõ xương sống, xương hông, xương sườn mà không cần ấn.
- Điểm 3 (vừa): phải ấn tay mới thấy xương sống, xương hông. Đây là mức mong muốn lúc vào chuồng đẻ.
- Điểm 4–5 (béo): ấn mạnh vẫn khó thấy xương; nái quá béo dễ đẻ khó, ăn kém sau đẻ, đè con.
Mỗi tuần sờ một lần, ghi điểm lên thẻ nái, điều chỉnh lượng cám từng con. Đây là thói quen rẻ nhất mà hiệu quả nhất ở trại nái.
Nái nuôi con: ăn đủ để có sữa
- Ngày đẻ: nái thường ăn rất ít, chủ yếu cần nước.
- Tuần đầu sau đẻ: tăng lượng cám dần mỗi ngày, không ép ăn nhiều ngay.
- Từ khoảng tuần thứ hai tới cai sữa: cho ăn gần như tự do. Một cách ước tính hay gặp là lượng cơ bản cho nái cộng thêm một phần cho mỗi heo con đang bú; khoảng cụ thể nên lấy theo hướng dẫn hãng cám hoặc cán bộ kỹ thuật.
- Chia nhiều bữa, ưu tiên giờ mát; cám ướt nhẹ giúp nái ăn nhiều hơn mùa nóng, nhưng phải rửa máng giữa các bữa.
- Nước uống là điều kiện số một: nái nuôi con uống rất nhiều nước, núm uống chảy yếu thì nái ăn kém, ít sữa.
Nái bỏ ăn sau đẻ kèm sốt, bầu vú sưng nóng, heo con kêu đói nhiều là dấu hiệu cần gọi thú y ngay, không chỉ là chuyện khẩu phần.
Nái sau cai sữa và đực giống
Nái sau cai sữa chờ phối
Nhiều tài liệu khuyên cho nái ăn khá nhiều trong khoảng thời gian từ cai sữa tới khi phối, để nái hồi sức và động dục lại nhanh. Sau khi phối, quay về khẩu phần nái chửa đầu kỳ. Chi tiết động dục và phối giống thuộc danh mục Sinh sản.
Đực giống
- Cho ăn theo bữa, lượng vừa phải để đực không quá béo (đực béo lười nhảy, nặng nề, dễ hỏng chân).
- Cám có đạm và khoáng, vitamin đầy đủ; một số hãng có cám riêng cho đực giống.
- Thêm ít rau xanh sạch; luôn có nước mát, nhất là mùa nóng vì nhiệt độ cao ảnh hưởng chất lượng tinh.
Bắt tay làm: bảng ghi khẩu phần treo ở chuồng
Kẻ một bảng nhỏ treo ở đầu mỗi dãy chuồng, mỗi tuần cập nhật:
| Ô / con | Giai đoạn | Loại cám | Lượng mỗi ngày | Số bữa | Ghi chú tuần này |
|---|---|---|---|---|---|
| Ô 1 | Heo thịt khoảng 40 kg | Cám giai đoạn đầu | … kg/con | 3 | Ăn hết, đều |
| Nái số 5 | Chửa tháng thứ hai | Cám nái chửa | … kg | 2 | Thể trạng điểm 3 |
Người cho ăn khác (người nhà, người làm thuê) nhìn vào bảng là làm đúng, không cho "theo cảm tính".
Học thêm ở đâu
- Hướng dẫn trên bao cám và nhân viên kỹ thuật của hãng: lượng ăn theo khối lượng, theo giai đoạn.
- Trung tâm Nghiên cứu lợn Thuỵ Phương và Viện Chăn nuôi: tài liệu nuôi nái, nuôi heo thịt.
- Lớp khuyến nông về nuôi heo nái sinh sản, có phần thực hành đánh giá thể trạng nái.
Câu hỏi thường gặp
Heo thịt một ngày ăn bao nhiêu kg cám?
Tuỳ khối lượng. Theo khoảng tham khảo của tài liệu khuyến nông, heo lai khoảng 30–60 kg ăn chừng 1,5–2,2 kg cám hỗn hợp mỗi ngày, heo trên 60 kg ăn chừng 2,2–3,0 kg. Heo nội ăn ít hơn. Luôn đối chiếu hướng dẫn trên bao cám.
Heo nái mang thai ăn bao nhiêu một ngày?
Thường khoảng 1,8–2,5 kg cám nái chửa mỗi ngày tuỳ chặng và thể trạng, tăng thêm ở 3–4 tuần cuối và giảm dần sát ngày đẻ. Cách điều chỉnh tốt nhất là sờ đánh giá thể trạng nái mỗi tuần.
Vì sao không cho nái chửa ăn tự do?
Nái chửa ăn tự do dễ quá béo, dẫn tới đẻ khó, ăn kém sau đẻ, ít sữa và dễ đè con. Ăn hạn chế có kiểm soát giúp nái vào chuồng đẻ với thể trạng vừa.
Heo con bắt đầu tập ăn khi nào?
Nhiều tài liệu khuyên cho heo con làm quen thức ăn từ khoảng tuần tuổi đầu tiên, bằng thức ăn chuyên dùng cho heo con, rắc ít một và thay mới thường xuyên. Mục tiêu là làm quen trước cai sữa chứ chưa phải ăn no.
Có nên cho heo ăn tự do không?
Heo thịt lai giai đoạn đầu cho ăn tự do thường lớn nhanh và đỡ công. Cho ăn theo bữa dễ theo dõi sức ăn, phát hiện sớm heo bỏ ăn. Hộ nhỏ có thể kết hợp tuỳ giai đoạn.