Một chuồng heo (lợn) hộ gia đình dùng được lâu cần năm thứ: ô nuôi đủ rộng cho từng loại heo, nền chắc có độ dốc về rãnh, rãnh thoát dẫn về chỗ xử lý, mái cao che được nắng mưa, và lối đi cho người làm. Với hộ nuôi khoảng mười con heo thịt, thường chia hai ô năm con, mỗi con được chừng một mét vuông. Phần dưới đây đi lần lượt từng bộ phận, kèm khoảng kích thước tham khảo từ tài liệu kỹ thuật phổ biến.
Bố trí chung: một dãy hay hai dãy
Hộ nhỏ thường chọn một trong hai kiểu:
- Chuồng một dãy: các ô xếp thành hàng, lối đi chạy dọc phía trước, rãnh thoát phía sau. Dễ làm, thoáng, hợp với vài ô tới chục ô.
- Chuồng hai dãy: hai hàng ô quay mặt vào một lối đi giữa, hoặc quay lưng vào nhau với hai lối đi hai bên. Tiết kiệm mái và tường hơn khi nuôi nhiều, nhưng giữa chuồng kém thoáng nếu mái thấp.
Dù kiểu nào, hãy tách riêng ô cho từng nhóm: heo nái, heo đực (nếu có), heo con sau cai sữa, heo thịt. Heo khác tuổi nuôi chung thì con lớn giành ăn, con nhỏ còi, bệnh từ con lớn truyền sang con nhỏ. Ô cách ly cho heo mới về đặt riêng ở cuối hướng gió, như đã nói trong bài chọn chỗ làm chuồng.
Diện tích ô cho từng loại heo
Bảng sau là khoảng tham khảo cho chuồng nền có sân chơi trong ô, tổng hợp từ tài liệu khuyến nông phổ biến. Mỗi nơi hướng dẫn hơi khác, và giống, khí hậu, cách nuôi cũng làm con số dịch đi. Nuôi đệm lót sinh học thì cần rộng hơn.
| Loại heo | Diện tích mỗi con (tham khảo) | Ghi chú |
|---|---|---|
| Heo con sau cai sữa | khoảng 0,3–0,5 m² | Ô ấm, kín gió lùa, có thể dùng sàn nhựa |
| Heo thịt nhỏ (tới khoảng 60 kg) | khoảng 0,6–0,8 m² | Nhóm chừng 8–15 con một ô |
| Heo thịt lớn (tới xuất chuồng) | khoảng 0,8–1,2 m² | Mùa nóng nên để rộng hơn |
| Nái hậu bị, nái chửa nuôi nhóm | khoảng 1,5–2,5 m² | Nuôi nhóm nhỏ cùng lứa phối |
| Nái nuôi con | một ô đẻ riêng | Xem bài chuồng đẻ và ô úm |
| Heo đực giống | một ô riêng, khoảng 6–8 m² | Tường chắc, cửa khoá chắc |
Cách thử nhanh ô có quá chật không: lúc heo nằm nghỉ giữa trưa, nếu cả đàn nằm duỗi mà vẫn còn chừa được một khoảng sàn khô để đi vệ sinh, ô vừa. Nếu heo phải nằm đè lên nhau hay nằm cả vào chỗ ướt, ô đã chật.
Ví dụ: chuồng cho mười con heo thịt
Giả định nuôi mười con từ heo con tới xuất chuồng, chia hai ô mỗi ô năm con. Mỗi ô khoảng 2 m × 2,5 m, tức 5 m², tính ra một mét vuông một con. Thêm lối đi phía trước rộng chừng 1 m, rãnh phía sau. Toàn bộ chuồng chừng 5 m dài và 3,5–4 m rộng, chưa kể kho cám và hầm xử lý. Đây là ví dụ để hình dung, không phải bản vẽ chuẩn.
Nền chuồng: dốc, nhám, không đọng
Nền là phần heo tiếp xúc cả ngày, nên quyết định chân heo có khoẻ không, chuồng có khô không.
- Vật liệu: bê tông đổ trên lớp đá dăm đầm chặt là phổ biến nhất. Mặt nền phải nhám, không láng bóng; nền trơn làm heo trượt ngã, nái hậu bị dễ hỏng chân. Nền gồ ghề quá thì rách móng, khó rửa.
- Độ dốc: nền dốc nhẹ về phía rãnh, tài liệu thường khuyên khoảng 2–3%. Dốc ít thì nước đọng; dốc nhiều thì heo đứng nghiêng, phân trôi chưa kịp đã khô.
- Chia vùng trong ô: heo tự biết chọn chỗ ngủ khô và chỗ thải ướt. Đặt máng ăn ở phần cao, núm uống và chỗ thải ở phần thấp gần rãnh. Heo sẽ tự giữ chỗ nằm sạch.
- Sàn thưa (sàn có khe bằng bê tông đúc, nhựa, gang) cho phân rơi xuống: sạch và khô hơn, đỡ công dọn, nhưng tốn tiền và cần hố chứa bên dưới. Nhiều hộ làm sàn thưa một phần ở vùng thải.
Rãnh thoát và đường về chỗ xử lý
Rãnh chạy dọc phía sau các ô, gom nước tiểu, nước rửa về một hố ga rồi vào hầm hoặc bể xử lý. Rãnh hở thường rộng khoảng 20–30 cm, đáy tròn hoặc vát để dễ cọ, dốc về một đầu. Nên có tấm đan hoặc nắp ở đoạn đi qua lối đi người.
Ba điều hay bị quên: đầu tiên, rãnh nước mưa đi riêng, không cho máng xối mái đổ vào rãnh phân. Thứ hai, có song chắn rác trước hố ga để cám rơi, rơm, xác chuột không chui vào ống. Thứ ba, rãnh phải nằm ngoài tầm với của heo hoặc có che, vì heo con hay rúc ra rãnh.
Chất thải gom về đâu và xử lý thế nào được viết riêng ở danh mục chất thải và biogas.
Tường, vách ngăn và cửa ô
- Vách ngăn ô cao khoảng 0,8–1 m cho heo thịt, cao hơn cho heo đực và nái. Xây gạch trát xi măng, hoặc dùng song sắt ở phần trên để thoáng.
- Vách ngăn giữa hai ô nên kín ở phần dưới để heo hai ô không cắn nhau qua song, nước bẩn không tràn sang.
- Tường bao phía gió lạnh xây kín hơn; phía đón gió mát để thoáng, che bằng rèm bạt cuộn lên hạ xuống được.
- Cửa ô mở vào trong lối đi, chốt chắc. Heo rất giỏi dùng mõm nâng then cửa.
- Góc tường, chân vách nên bo tròn hoặc trát kỹ, không để kẽ hở cho phân đọng và ruồi đẻ trứng.
Mái chuồng: cao, mát, che mưa tạt
Mái là phần quyết định chuồng nóng hay mát. Mái thấp hấp nhiệt xuống lưng heo. Tài liệu thường khuyên chiều cao từ nền tới chỗ thấp nhất của mái vào khoảng 2,5–3 m cho chuồng hở; mái càng cao, chuồng càng thoáng.
| Vật liệu mái | Ưu điểm | Nhược điểm |
|---|---|---|
| Ngói, mái lá | Mát | Nặng hoặc mau hỏng; mái lá dễ cháy, khó giữ vệ sinh |
| Tôn thường | Nhẹ, nhanh lắp | Rất nóng nếu không có lớp cách nhiệt; ồn khi mưa |
| Tôn cách nhiệt (có lớp xốp, PU) | Giảm nóng đáng kể | Tốn hơn tôn thường |
| Fibro xi măng | Mát hơn tôn mỏng | Giòn, dễ vỡ |
Mái nên đua ra khỏi tường đủ dài để mưa tạt không hắt vào ô, nhất là ở miền Nam mùa mưa. Mái hai tầng có khe hở ở nóc (mái "cổ cò") giúp khí nóng thoát lên. Cách chống nóng cho chuồng hở viết kỹ ở bài riêng.
Lối đi, kho và chỗ cho người làm
Người chăn heo đi lại trong chuồng nhiều lần mỗi ngày. Lối đi rộng khoảng 1–1,2 m đủ cho xe rùa chở cám, đẩy phân. Nên có một vòi nước, một chỗ treo dụng cụ riêng cho từng dãy, một bóng đèn đủ sáng để buổi tối nhìn rõ heo.
Kho cám đặt gần cổng, kê bao cám trên pallet cách tường và nền, kín chuột. Cám ẩm mốc là nguồn độc tố nấm mốc, heo ăn vào chậm lớn, nái dễ sảy thai. Thuốc, vaccine cất riêng theo hướng dẫn của cán bộ thú y, không để chung với cám.
Sai lầm hay gặp khi tự thiết kế
- Ô quá rộng cho heo con: heo con nằm xa, lạnh, đi thải khắp ô.
- Nền láng bóng cho dễ rửa, heo trượt chân, nái hỏng móng.
- Đặt máng ăn và núm uống sát nhau: cám ướt, chua, ruồi bu.
- Mái tôn thấp không cách nhiệt: mùa hè chuồng thành lò nung.
- Không có ô cách ly: heo mới mua thả thẳng vào đàn.
- Không chừa chỗ xử lý chất thải: xây xong ô mới nghĩ tới hầm.
Bắt tay làm: trình tự từ bản vẽ tới lúc thả heo
- Quyết định số heo tối đa định nuôi cùng lúc và chia nhóm theo loại.
- Tính diện tích ô theo bảng, cộng lối đi, rãnh, kho, ô cách ly.
- Vẽ mặt bằng lên giấy kẻ ô, đánh dấu hướng gió và chỗ đặt hầm.
- Đổ nền có độ dốc, kiểm bằng cách đổ một xô nước xem chảy hết về rãnh không.
- Lắp máng, núm uống, kiểm áp lực nước từng núm.
- Để chuồng khô vài tuần cho bê tông đủ cứng, rửa sạch, sát trùng, để trống vài ngày rồi mới thả heo.
Học thêm ở đâu
Trung tâm Khuyến nông các tỉnh có mẫu thiết kế chuồng heo nông hộ, đôi khi kèm bản vẽ. Đi xem tận nơi hai ba hộ nuôi giỏi trong xã là cách học nhanh nhất: hỏi họ sau mấy năm thì muốn sửa chỗ nào. Cán bộ thú y xã có thể góp ý về chỗ đặt ô cách ly, hố sát trùng. Các bài làm mát, giữ ấm, máng uống, chuồng đẻ trong cùng danh mục đi sâu hơn vào từng phần.
Câu hỏi thường gặp
Chuồng heo 10 con cần bao nhiêu mét vuông?
Với heo thịt nuôi tới xuất chuồng, mỗi con cần khoảng 0,8–1,2 m² diện tích ô theo tài liệu tham khảo. Mười con chia hai ô khoảng 5 m² mỗi ô là vừa, cộng thêm lối đi, rãnh và kho cám. Mùa nóng hoặc nuôi đệm lót thì nên rộng hơn.
Nền chuồng heo nên dốc bao nhiêu?
Tài liệu kỹ thuật thường khuyên dốc khoảng 2–3% về phía rãnh thoát. Dốc ít thì nước đọng, dốc nhiều thì heo đứng không vững. Đổ thử một xô nước sau khi đổ nền để kiểm.
Mái tôn có làm chuồng heo nóng không?
Tôn mỏng không cách nhiệt hấp nhiệt rất mạnh, nhất là khi mái thấp. Dùng tôn có lớp cách nhiệt, nâng mái cao, làm mái hai tầng có khe thoát khí nóng sẽ giảm nóng đáng kể. Bài chống nóng chuồng hở trong danh mục này có thêm cách làm.
Có nên nuôi heo con và heo lớn chung một ô không?
Không nên. Heo lớn giành ăn, heo nhỏ còi, và mầm bệnh dễ lây từ heo lớn sang heo nhỏ. Chia ô theo nhóm tuổi và kích cỡ tương đương.
Chuồng heo nên dùng sàn bê tông hay sàn nhựa?
Hộ nhỏ phổ biến nhất là sàn bê tông nhám có độ dốc. Sàn nhựa có khe hợp với heo con sau cai sữa và ô úm vì khô, ấm chân. Sàn thưa giúp chuồng sạch hơn nhưng cần hố chứa phân bên dưới và tốn hơn.